Trang chủ   /   Hệ thống chính trị   /   Đảng ủy xã

Ngược dòng lịch sử, từ sau nửa thế kỷ XIX, Xã Quảng Văn ngày nay gồm có các xã Văn Khuê, xã Thiều Xuyên (thuộc Tổng Văn Trinh), xã Văn Nham, xã Ngọc Đới (thuộc Tổng Ngọc Đới). Cách mạng tháng 8 thành công, tháng 4/1946 Chính phủ Nước Việt Nam dân chủ cộng hoà giải tán cấp tổng, thành lập cấp xã. Lúc này Quảng Văn gồm 2 xã : Đề Thám và Thái Học. (Vùng đất Quảng Long ngày nay khi đó thuộc xã Cao Thắng). Đến cuối năm 1947 -  3 xã Đề Thám, Thái Học và Cao Thắng được sát nhập thành xã lớn với tên gọi Xã Quảng Văn, cùng trong thời gian đó nhân dân Quảng Văn cùng với nhân trong Tỉnh và Huyện nhà Quảng Xương  đã kề vai, sát cánh cùng nhân dân cả nước liên tiếp nổi dậy chống lại ách áp bức bóc lột của bọn thực dân và phong kiến tay sai.

Dưới sự lãnh đạo, chỉ đạo của Tỉnh ủy Thanh Hóa.  Ngày 26 tháng 02 năm 1946, Đảng bộ Huyện Quảng Xương được thành lập tại làng Hòa Chúng (Xã Quảng Thọ ngày nay), mở ra hướng đi mới cho phong trào cách mạng Huyện nhà. Sự kiện lịch sử ấy đã tác động sâu sắc, toàn diện và trực tiếp đến phong trào cách mạng ở Quảng Văn. 

Thực hiện sự chỉ đạo của Huyện ủy Quảng xương, vào 9 giờ sáng ngày 16/01/1947, tại nhà đồng chí Nguyễn Công Cường (xã Cao thắng) đã tổ chức lễ kết nạp đồng chí Nguyễn Công Thước vào Đảng cộng sản Việt nam do đồng chí Nguyễn Công Cường giới thiệu và bảo đảm. Sau lễ kết nạp đồng chí Thước là công bố Quyết định của Huyện ủy Quảng xương về việc thành lập chi bộ Đảng và lấy tên là chi bộ Côn Minh, gồm 3 đồng chí : Cao Xuân Giản, Trần Thị Nhị và Nguyễn Công Thước do đồng chí Cao Xuân Giản làm Bí thư. Chi bộ Côn Minh là một trong 4 chi bộ đầu tiên trực thuộc Huyện ủy Quảng xương. Việc thành lập chi bộ Đảng Côn Minh (tiền thân là Chi bộ Đảng và là Đảng bộ Quảng Văn ngày nay) là một sự kiện quan trọng trong đời sống chính trị của nhân dân toàn xã. Từ đây mọi phong trào cách mạng đều có sự lãnh đạo trực tiếp của Đảng. Cũng từ đó, ngày 16.01.1947 được lấy làm ngày thành lập Đảng bộ xã nhà.

Đến cuối năm 1947, Ủy ban hành chính Huyện quyết định sát nhập 3 xã Thái Học, Đề Thám và Cao Thắng thành xã Quảng Văn. Trên một địa bàn rộng lớn được tháp lại bởi 3 xã, công tác xây dựng Đảng tại Quảng Văn lúc này càng trở nên cấp thiết, nhất là khi yêu cầu của sự nghiệp cách mạng ngày càng khó khăn. Chi bộ Côn Minh được đổi tên thành chi bộ Công Chính nhưng cũng mới chỉ có 3 đảng viên, vì vậy công tác phát triển Đảng là một yêu cầu rất quan trọng.

 Đến cuối năm 1947, số đảng viển được phát triển thêm là 17 đồng chí, (địa bàn Quảng Văn có các đồng chí mới được kết nạp như : Hàn Thế Phiệt, Hoàng Văn Trúc, Đỗ Văn Dự…).  Đến nửa đầu năm 1948, số đảng viên được tăng lên 59 đồng chí (Quảng Văn có các đồng chí Hoàng Văn Ước, Trần Xuân Ngận, Trần Xuân Giảng…). Năm 1949 số đảng viên trong chi bộ đã lên tới 132 đồng chí.

Đại hội chi bộ vào tháng 9.1951 được tổ chức tại nhà Ông Nguyễn Văn Nông (Thôn Lộc xá) và Đại hội đã bầu đồng chí Trần Xuân Ngận làm Bí thư chi bộ. Năm 1952 đồng chí Trần thị Nhị đảm nhiệm, rồi đến đồng chí Tô Khắc Dởn được cử giữ chức Bí thư chi bộ.

Tháng 11/1953 Huyện tiếp tục chủ trương chia tách địa bàn hành chính. Quảng văn được chia tách thành 2 xã : Quảng Văn và Quảng Long. Chi bộ Công Chính lúc này cũng đủ điều kiện để chia tách thành 2 chi bộ đó là : Chi bộ Quảng Văn và chi bộ Quảng Long. Từ đây Chi bộ tiếp tục lãnh đạo nhân dân trong xã tiến hành sự nghiệp cách mạng cao cả, góp phần đánh thắng cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp năm 1954.

Kính thưa các đồng chí!

     Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược lần thứ hai bùng nổ. Chi bộ Đảng Quảng văn đã tích cực lãnh đạo các tầng lớp nhân dân hăng hái tham gia lao động, sản xuất, thực hành tiết kiệm, mua công trái, công phiếu kháng chiến. Mặt khác, các phong trào xây dựng lực lượng dân quân du kích, động viên thanh niên vào bộ đội, tham gia dân công phục vụ tiền tuyến, xây dựng tuyến phòng thủ, tổ chức rào làng chiến đấu. 9 năm trường kỳ kháng chiến, quân và dân Quảng Văn đã đào 1.200 hầm và hố cá nhân, hàng chục ki lô mét hào giao thông, hàng trăm ụ tác chiến, hàng chục lũy bảo vệ các lớp học, tạo thành mạng lưới phòng không, hạn chế tổn thất khi máy bay địch oanh tạc. Đồng thời đã đóng góp 15 chỉ vàng, 17 lạng bạc, 7 tạ đồng, 80 tấn lương thực quy thóc. Đã đóng góp hàng trăm lượt người tham gia 13 đợt dân công, có 294 lượt dân công tham gia chiến dịch Điện biên phủ. Trong kháng chiến toàn xã có 197 thanh niên tòng quân, 38 thanh niên xung phong, 490 lượt người tham gia dân quân du kích và là hậu phương vững chắc của cuộc kháng chiến, góp phần cùng nhân dân cả nước làm nên chiến thắng lịch sử Điện Biên Phủ “lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu”. Nhân dân Quảng văn, và Quảng Long được Đảng, Chính phủ, Tỉnh ủy, Ủy ban kháng chiến hành chính Tỉnh, Huyện tặng nhiều Huân, huy chương, Bằng khen, giấy khen…

Cuộc kháng chiến chống Pháp thắng lợi, cách mạng Việt Nam thực hiện đồng thời hai nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH ở miền Bắc, đấu tranh giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước.

Trên tinh thần đó, Đảng bộ xã đã đề ra nhiều nghị quyết quan trọng, xác định các giải pháp xây dựng và bảo vệ hậu phương, chi viện sức người, sức của cho tiền tuyến.

Bị thất bại nặng nề trên chiến trường miền Nam, ngày 5 tháng 8 năm 1964, đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai tăng cường mở rộng cuộc chiến tranh phá hoại miền Bắc bằng không quân và hải quân hòng ngăn chặn sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam. Đảng bộ xã xác định nhiệm vụ cấp bách lúc này là chuyển mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến, đẩy mạnh công tác phòng không sơ tán, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, tích cực phát triển lực lượng dân quân tự vệ, bộ đội địa phương, hoàn thành các nghĩa vụ và chỉ tiêu đối với nhà nước và tiền phương. Cùng với việc tổ chức lực lượng chiến đấu, Đảng bộ xã đã phát động thi đua giữ vững mạch máu giao thông. Nhiều phong trào để lại dấu ấn trong lịch sử, tạo nên khí thế thi đua sôi nổi như: “vững tay súng, chắc tay cày”, “vững tay búa, chắc tay súng”, “ba giỏi”, “ba sẵn sàng”, “ba đảm đang”, “Thu Bồn dậy sóng” - hưởng ứng phong trào diệt Mỹ của nhân dân Quảng Nam...

Trong cuộc chiến đấu chống chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ, Quảng Văn trở thành trọng điểm đánh phá của địch. Bởi vì : Quảng Văn là một địa bàn chiến lược quan trọng của Huyện, có đường chiến lược chạy qua, nối quốc lộ 1A với quốc lộ 45 xuyên suốt chiều dài của xã. Đây là con đuờng trọng yếu vận chuyển lương thực thực phẩm vào Nam. Phía nam giáp sông Yên có xưởng cơ khí Phương Nam, xưởng đóng thuyền Tân Châu, Trung đoàn 57, đơn vị tên lửa, trận địa pháo phòng không. Đặc biệt có cao điểm 108 (Núi Văn Trinh), một vị trí quân sự quan trọng mang tầm chiến lược của Tỉnh.

 Trong thời kỳ này, quân và dân Quảng Văn đã huy động lực lượng với 120 cán bộ đảng viên tham gia cùng với đoàn viên, thanh niên của các xã bạn trong Huyện mở đường chiến lược dài 1 km lên núi Văn Trinh. Chỉ sau có 2 ngày, con đường kéo pháo và phương tiện kỹ thuật lên đỉnh núi cao hơn 100m đã hoàn thành.

Với tinh thần: “Tất cả cho tiền tuyến để đánh thắng giặc Mỹ xâm lược”; “Nhà che nắng che sương, hầm che xương, che thịt”. Đến cuối tháng 4/1965 toàn xã đã đào được 2.600m hào giao thông, đào đắp 1.674 hầm trú ẩn công cộng và gia đình. Đúng ngày mùng 3 và ngày mùng 4/4/1965 máy bay giặc Mỹ bắt đầu bắn phá Thanh hoá. Xuất phát từ tình hình trên, dưới sự chỉ đạo của Huyện uỷ.  Đảng uỷ xã đã triệu tập cuộc họp bàn giải pháp để lãnh đạo nhân dân vừa đảm bảo sản xuất vừa tham gia chiến đâu trong thời gian tới. Trong đó, đã thành lập 3 trung đội trực chiến gồm 120 người bắn máy bay bằng súng bộ binh, nòng cốt là đảng viên, đoàn viên thanh niên do đồng chí Xã đội trưởng trực tiếp chỉ huy. Đặc biệt, trong 2 năm 1965-1966 Quảng Văn chúng ta đã có 20 lần bị ném bom và pháo kích của địch làm thiệt mạng 26 người và làm bị thương 12 người. Cá biệt ngày 16.10.1966 Làng Quang Minh bị 3 quả bom ném xuống làm hư hỏng nặng 3 ngôi nhà, 8 người thiệt mạng, trong đó có cháu bé 2 tuổi. Trận pháo kích ngày 18/10/1966 vào Cao điểm 108 (Văn Trinh), Làng Bái Môn bị chết 1 người, bị thương 5 người; ngày 26/5/1967 máy bay Mỹ đã ném bom vào đội thuyền nan trên Sông Yên, 5 quả bom rơi vào Làng Văn Nham, Kim Quýt giết hại 3 người, bị thương 5 người.

Cũng trong thời gian trên không sợ hy sinh, gian khổ, khó khăn trước sự oanh tạc của kẻ thù xâm lược. Lực lượng dân quân trực chiến của xã đã túc trực ngày đêm cứu vớt được 3.600 tấn gạo bị chìm tại Sông Yên do máy bay Mỹ ném bom làm đắm thuyền, sau đó đem phơi khô. Đồng thời vận động nhân dân đổi gạo ướt lấy gạo khô để tiếp tục vận chuyển ra chiến trường. Trong mịt mù khói bom, các đội cứu thương sập hầm luôn có mặt sẳn sàng băng bó cấp cứu, người bị thương, lo mai táng cho người bị chết, các HTX xuất gạo cứu trợ các gia đình bị sập nhà, nhân dân trong đội sản xuất đã góp tranh tre, nứa lá, ngày công dựng lại nhà của ổn định cuộc sống. Ngoài việc trực tiếp tham gia chiến đấu. Đảng bộ còn tuyên truyền vận động nhân dân chống chiến tranh tâm lý của Đế quốc Mỹ và nhân dân luôn đề cao cảnh giác và đã nhặt được 11.308 tờ tuyền đơn, 12.460 tờ bạc giả và nhiều hàng tâm lý chiến khác nạp về xã để tiêu hủy.

. Lịch sử Đảng bộ xã nhà ghi nhận nhiều cán bộ, đảng viên và con em Quảng Văn, không phân biệt giới tính, lứa tuổi đã không quản ngại hy sinh, ngày đêm lăn lộn và luôn có mặt ở những nơi nóng bỏng nhất, sẵn sàng xả thân dưới mưa bom, bão đạn, luôn đi đầu trên mọi lĩnh vực, góp phần làm nên thắng lợi ở hậu phương và chiến thắng ngoài tiền tuyến.

Năm tháng sẽ qua đi, cuộc sống với biết bao bộn bề công việc luôn luôn  tiến về phía trước. Chúng ta mãi mãi khắc ghi về một thời đạn bom và một thời hòa bình. Trải qua cuộc kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam XHCN, Đảng bộ và nhân dân Quảng Văn đời đời ghi nhớ công ơn của 140 liệt sỹ, 89 thương binh, 62 bệnh binh đã dâng trọn cuộc đời, tuổi thanh xuân và một phần xương máu của mình trên các chiến trường. Những đóng góp to lớn về sức người, sức của Đảng bộ và nhân dân Quảng Văn, chúng ta đã được Nhà nước ghi nhận và  tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhì ; phong tặng danh hiệu cao quý “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân” cho nhân dân và lực lượng vũ trang Xã Quảng Văn năm 2005; được phong và truy tặng  danh hiệu cho “11 Bà mẹ Việt nam anh hùng”; và 01 “Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân Liệt sỹ Cao Xuân Thăng”. Qua các thời kì của cuộc kháng chiến Chống Pháp, chống Mỹ,  Chiến tranh bảo về tổ quốc và xây đựng đất nước, công cuộc đổi mới, xã nhà đã có nhiều các thế hệ cán bộ Trung cao cấp hoạt động, công tác trong Quân đội và Công an. Hiện tại toàn xã có 21 cán bộ cao cấp từ cấp hàm Thượng tá trở lên, và vinh dự có đồng chí Thiếu tướng Hồ Trọng Đào - Cục trưởng Cục Chính trị thuộc Tổng Cục chính trị QĐNDVN hiện nay đang tại ngũ.  

 Cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước thắng lợi được đánh dấu bằng cuộc Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975. Nhân dân Quảng Văn đã cùng nhân dân  Huyện nhà không tiếc công sức, tiền của và máu xương để xây dựng, bảo vệ hậu phương và chi viện cho tiền tuyến. Kết thúc cuộc kháng chiến, Đảng bộ và nhân dân trong Xã tiếp tục bước vào thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược: Xây dựng CNXH và bảo vệ Tổ quốc XHCN.

Sau ngày hòa bình lập lại, trong 10 năm (1975 – 1985), Đảng bộ xã nhà đã tập trung khắc phục hậu quả chiến tranh, khôi phục và phát triển kinh tế, văn hoá, xã hội. Xã đã huy động hàng ngàn lao động tham gia các đại công trình thủy lợi như sông Thống Nhất, sông Lý, sông Hoàng. 10 năm thực hiện kế hoạch Nhà nước lần thứ 2 và lần thứ 3, Quảng Văn đã hoàn thành xuất sắc việc đóng nghĩa vụ lương thực, thực phẩm cho Nhà nước và là một trong những xã trong huyện được UBND tỉnh, Huyện tặng bằng khen, giấy khen. Đó là thành quả của sự đoàn kết, thống nhất, chung sức chung lòng, bằng cả mồ hôi và trí tuệ của Đảng bộ và nhân dân  Quảng văn chúng ta.

Đặc biệt, qua 30 năm tiến hành công cuộc đổi mới, Đảng bộ xã đã triển khai vận dụng sáng tạo chủ trương, đường lối của Đảng, lựa chọn những nhiệm vụ trong tâm, trọng điểm, ban hành nhiều cơ chế, chính sách phù hợp, khơi dậy tiềm năng lao động sáng tạo trong nhân dân, tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài, đưa kinh tế - xã hội của xã nhà luôn có bước phát triển cao. Trong giai đoạn thực hiện CNH, HĐH, xây dựng nông thôn mới hướng tới mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, Đảng bộ tập trung lãnh đạo chuyển dịch cơ cấu kinh tế; đẩy mạnh áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất; xác định ngành kinh tế mũi nhọn; xây dựng kết cấu hạ tầng, nâng cao đời sống nhân dân. Chú trọng nhiệm vụ nâng cao chất lượng trường chuẩn, xã chuẩn y tế quốc gia, xây dựng làng văn hoá, xây dựng đời sống văn hoá cơ sở, giải quyết việc làm, xoá đói, giảm nghèo. Thực hiện tốt nhiệm vụ quân sự, quốc phòng, tạo điều kiện ổn định để phát triển kinh tế xã hội. Tập trung xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Trọng tâm là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các tổ chức đảng; cải cách hành chính, phát huy dân chủ,  xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân.

Nhiệm kỳ 2010 – 2015, các lĩnh vực kinh tế, xã hội đều có bước phát triển vững chắc. Tốc độ tăng trưởng giá trị sản xuất bình quân toàn xã đạt 15%, tăng 2% so với bình quân giai đoạn 2005 – 2010. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, tỷ trọng nông nghiệp giảm dần, tỷ trọng công nghiệp, xây dựng, dịch vụ trong nền kinh tế liên tục tăng. Thu nhập bình quân đầu người năm 2016 đạt 19,47 triệu đồng, tăng 2,47 triệu so với năm 2015. Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2011 - 2015 đạt 113,5 tỷ đồng gấp 8,2 lần so với nhiệm kỳ trước.  Xã đã tranh thủ tốt thời cơ huy động hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn lực từ cấp quyền sử dụng đất, phục vụ xây dựng cơ sở hạ tầng. Nhiều các công trình trọng điểm về giao thông, thủy lợi, trường học, trạm y tế, các công trình phúc lợi đã hoàn thành và đưa vào sử dụng, phục vụ sản xuất và nâng cao đời sống nhân dân. Chất lượng hoạt động văn hóa – xã hội được nâng cao. An sinh xã hội được chăm lo. Chất lượng giáo dục - đào tạo được giữ vững và nâng lên, cơ sở vật chất được tăng cường. Tỷ lệ đạt chuẩn quốc gia về y tế, giáo dục được tăng lên. Chăm sóc, bảo vệ sức khỏe nhân dân ngày càng tốt hơn. Văn hoá, văn nghệ, thể dục, thể thao phát triển sâu rộng, Phong trào “Đền ơn đáp nghĩa”,  “Uống nước nhớ nguồn” luôn được quan tâm thực hiện tốt, tỷ lệ hộ nghèo 4,6%.  Quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân được tăng cường. Các nhiệm vụ quốc phòng và an ninh được thực hiện nghiêm túc, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội bảo đảm.  Hoạt động của Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể luôn được đổi mới, chất lượng được nâng lên. Hàng năm kết nạp mới từ 6 đến 9 đảng viên.  Công tác xây dựng chỉnh đốn Đảng và cuộc vận động học tập, làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được thực hiện nghiêm túc và đạt được nhiều kết quả quan trọng. Đến nay xã có 17 chi bộ với 342 Đảng viên, Đảng bộ liên tục đạt TSVM.

70 năm đã đi qua, đất nước, quê hương và con người đều có nhiều thay đổi. Đảng bộ trải qua 24 kỳ Đại hội với nhiều gian nan, thử thách nhưng rất kiên cường, anh dũng và đầy hi sinh.

30 năm thực hiện đường lối đổi mới, Quảng Văn từ một xã nghèo trở thành một xã đã và đang từng bước phát triển theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Từ một xã khó khăn, chúng ta đã kiến thiết, xây dựng làm cho quê hương ngày càng thay da đổi thịt. Bộ mặt nông thôn Quảng Văn có sự khởi sắc rõ rệt như ngày hôm nay là kết quả của sự chung sức đồng lòng của các thế hệ cán bộ, đảng viên và nhân dân, sự nỗ lực tích cực, đoàn kết, thống nhất đóng góp đầy sáng tạo của các tầng lớp nhân dân. Từ đó đã tạo nên bức tranh sống động, những dấu ấn tuyệt vời về một vùng quê có bề dày lịch sử, văn hóa, giàu tiềm năng, triển vọng. Những dấu ấn sâu sắc đó không phụ lòng công sức của người dân Quảng Văn chúng ta đã được Chủ tịch UBND Tỉnh Thanh hóa quyết định công nhận xã nhà đạt chuẩn Nông thôn mới, được Chủ tịch UBND Huyện Quảng Xương quyết định xã đạt danh hiệu Chuẩn văn hoá NTM vào tháng 12/2014.

 

Từ thực tiễn 70 năm xây dựng, trưởng thành và lãnh đạo cách mạng của Đảng bộ xã đã đúc kết được kinh nghiệm quý báu.

Một là: Phải nắm vững và vận dụng một cách chủ động, sáng tạo, đường lối chủ trương, chính sách của Đảng, Nhà nước và của Huyện, của Tỉnh của Trung ương, căn cứ vào điều kiện hoàn cảnh cụ thể của xã nhà đề ra những chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp đúng đắn phù hợp. Trong lãnh đạo, chỉ đạo phải nắm vững thời cơ; huy động được sức mạnh tổng hợp; phải xác định được nhiệm vụ trọng tâm, trọng điểm, chọn khâu đột phá; khai thác được tiềm năng lợi thế của địa phương; kết hợp phát huy nội lực với tranh thủ nguồn lực từ bên ngoài; tranh thủ sự chỉ đạo, giúp đỡ của cấp trên và của các ngành, các thành phần kinh tế.

Hai là: Làm tốt công tác tuyên truyền, phổ biến đường lối, chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng, Nhà nước, chủ trương, nhiệm vụ của địa phương đến cán bộ, đảng viên và nhân dân. Thực hiện tốt Quy chế dân chủ, tạo được sự thống nhất trong Đảng, đồng thuận trong nhân dân; huy động sức mạnh tổng hợp để thực hiện thắng lợi nhiệm vụ đề ra. Thực hiện tốt phương châm “Dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra”.

Ba là: Chăm lo xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh, tập trung nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, Đảng viên. Làm tốt công tác quy hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí sắp xếp đội ngũ cán bộ, nhất là người đứng đầu cấp ủy, chính quyền, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, đáp ứng yêu cầu tình hình, nhiệm vụ cách mạng.

 

Liên kết website
  • CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ XÃ QUẢNG VĂN
  • Địa chỉ: Khu phố 2 Thị trấn Quảng Xương, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa
  • Điện thoại: (0373)863.403 ; Fax: (0373)863.002; Email: quangxuong@thanhhoa.gov.vn
  • Đơn vị xây dựng: Trung tâm CNTT&TT Thanh Hóa